Theo số liệu của Hội VLXD Việt Nam, năm 2008 ngành xây dựng cả nước sử dụng trên 22 tỷ viên gạch quy chuẩn. Ước tính nhu cầu cả nước năm 2010 là 25 tỷ viên, năm 2015 là 32 tỷ viên và năm 2020 cần tới 42 tỷ viên. Phần lớn số lượng gạch xây được sử dụng ở nước ta vẫn là loại gạch đất sét nung (gạch đỏ), gạch không nung chỉ chiếm khoảng 8-8,5%. Sự phát triển ồ ạt các lò gạch đất sét nung dẫn đến những hậu quả tai hại về lâu dài, như: ô nhiễm môi trường, mất đất canh tác...
Theo tiến sĩ Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam, để sản xuất 1.000 viên gạch đặc thủ công phải tiêu tốn không dưới 200 kg than đá, gạch rỗng lò tuy nen cũng cần 120-150 kg than/1.000 viên. Sản xuất 1.000 viên gạch đỏ phải sử dụng trung bình 1,5 m3 đất sét, tính ra trong vòng 8 năm (2000-2007), cả nước sản xuất 120 tỷ viên gạch, tiêu tốn 180 triệu m3 đất sét. Nếu lấy trung bình 1m2 khai thác được 2m3 đất thì diện tích đất phải sử dụng là 9.000 ha, như vậy trung bình mỗi năm có tới 1.200 ha mặt đất bị biến thành ao hồ.
Tại Hải Dương, theo ước tính của Sở Xây dựng, mỗi năm sản xuất được trên 500 triệu viên gạch xây tiêu chuẩn, trong đó phần lớn là gạch nung. Việc phát triển ồ ạt các lò gạch thủ công dẫn đến ô nhiễm môi trường nặng nề ở nhiều khu vực ảnh hưởng lớn đến mùa màng và sức khoẻ người dân gây bức xức, thậm chí khiếu kiện kéo dài... Tỉnh đã có nhiều biện pháp quản lý trong sản xuất vât liệu xây dựng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế mất đất sản xuất nông nghiệp. Do vậy trong vài năm gần đây đã xuất hiện nhiều lò gạch tuy nel được đưa vào hoạt động. Đặc biệt, để hỗ trợ các cơ sở sản xuất gạch bằng lò kiểu cũ trong giai đoạn chuyển tiếp nhằm giảm thiểu môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu áp dụng công nghệ lò gạch liên tục kiểu đứng với trên 100 cặp lò hoạt động hiệu quả, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, với việc sản xuất gạch nung dù là kiểu nào thì vẫn tiêu tốn nguyên liệu đất và ảnh hưởng đến môi trường. Chỉ tính riêng về nguyên liệu đất, hàng năm, với sản lượng trên 500 triệu viên tỉnh ta phải mất khoảng 37,5 ha đất mặt để sản xuất gạch nung (theo cách tính trên). Đây là một thách thức lớn trong bối cảnh quỹ đất dành cho sản xuất ngày càng hạn hẹp đòi hỏi phải hướng tới cơ cấu sản xuất gạch xây tiến bộ hơn mà trong đó tỷ trọng gạch không nung chiếm tỷ trọng ngày một cao hơn.
Trong các loại gạch không nung -
gạch bloc bê tông, với đặc trưng công nghệ sản xuất đơn giản, đầu tư không cao, tận dụng được nguồn nguyên liệu phế thải trong khai thác đá, trong sản xuất nhiệt điện...và có thể giải quyết các vấn đề đặt ra như đã nói trên. Hơn nữa, sản phẩm sản xuất ra có được những ưu việt mà gạch đất nung không có được, đó là: tính ổn định chất lượng sản phẩm cao; chủng loại phong phú, đa dạng về kết cấu, tính cách âm, cách nhiệt cao, nhẹ hơn về khối lượng thể tích ...Việc sử dụng gạch block bê tông trong công trình xây dựng sẽ giảm tải cho các kết cấu chịu lực khác của công trình, tạo thuận lợi cho thi công xây dựng, lắp đặt điện nước ...cộng với giá thành rẻ tạo cơ sở cho việc tiết kiệm kinh phí đầu tư mà vẫn đảm bảo chất lượng cũng như hình thức của công trình.
Những ưu việt không thể phủ nhận, gạch bloc bê tông đã trở thành loại gạch xây phổ biến tại các nước phát triển trên thế giới: Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu... đều có tỷ lệ sử dụng chiếm trên 70% thị phần. Cơ cấu ấy là một gợi ý trong phát triển sản xuất gạch xây đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế suy giảm diện tích đất mặt ở nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng.
Từ cuối năm 2008, tỉnh ta đã có 03 doanh nghiệp đầu tư các dây chuyền sản xuất gạch blôc bê tông. Trong số đó, Công ty cổ phần Đoàn Minh Công là đơn vị triển khai đầu tiên và đã bước đầu đưa ra thị trường nhiều chủng loại gạch bloc bê tông. Đây chính là những tín hiệu mở đầu cho một xu hướng mới tích cực trong sản xuất gạch xây trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, việc đưa các sản phẩm mới vào thi công các công trình xây dựng còn nhiều khó khăn do thói quen dùng sản phẩm cũ trong thiết kế, thi công; phần nhiều chưa hiểu hết các ưu điểm nổi trội của gạch bloc bê tông, nên ngại dùng. Thêm vào đó, các văn bản kỹ thuật hướng dẫn sử dụng vào công trình còn thiếu, giá cả cũng chưa được thông báo chính thức trong hệ thống thông báo giá của tỉnh.... Để khắc phục những khó khăn ban đầu, một mặt, các doanh nghiệp cần đảm bảo kiển soát tốt quá trình sản xuất, ổn định chất lượng sản phẩm và đẩy mạnh triển khai các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm. Mặt khác, các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh có liên quan cần quan tâm hỗ trợ giải quyết khó khăn vướng mắc của các doanh nghiệp này trong quá trình sản xuất cũng như quá trình đưa sản phẩm áp dụng trong thực tiến... Có sự quan tâm phối hợp như vậy, chắc chắn loại vật liệu xây dựng này sẽ nhanh chóng phát triển trên địa bàn tỉnh, góp phần chuyển đổi cơ cấu gạch xây theo hướng tích cực, tiến bộ, đảm bảo tốt nhu cầu kinh tế - xã hội, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế mất đất mặt và thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa sản lượng VLXD không nung thay thế VLXD có nung lên tỷ lệ 10-15% vào năm 2010; 20-25% vào năm 2015 và sẽ đạt tỷ lệ 30-40% vào năm 2020 theo quy hoạch tổng thể phất triển VLXD Việt Nam được Thủ tướng phê duyệt tại
Quyết định 121/2008/QĐ-TTg ngày 29/8/2008 .